Các bệnh xã hội và triệu chứng thường gặp

Bệnh xã hội là thuật ngữ dùng để chỉ những bệnh lây nhiễm qua đường tình dục không an toàn và có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người. Bệnh thường lây chủ yếu qua đường tình dục, khiến sức khỏe của nam và nữ giới bị ảnh hưởng và gây ảnh hưởng tiêu cực tới toàn xã hội.

cac-benh-xa-hoi-thuong-gap

Bệnh sùi mào gà và những biểu hiện chính

Bệnh sùi mào gà có tên gọi khác là bệnh mụn cóc sinh dục hoặc bệnh mồng gà, tác nhân gây bệnh là virus HPV, thời gian ủ bệnh khoảng từ 2 đến 9 tháng. Biểu hiện của bệnh sùi mào gài này ở giai đoạn đầu là những nốt mụn sùi nhỏ li ti, đường kính khoảng 1 – 2mm, có màu hồng và mọc riêng lẻ với nhau. Sau một thời gian, những nốt mụn sùi này sẽ phát triển với kích thước lớn hơn, mật độ dày hơn,  mụn sùi có thể đạt chiều dài tới vài cm, bên cạnh đó thì chúng còn có thể liên kết lại với nhau tạo thành một khối sùi mào gà lớn.

Ở nam giới, triệu chứng của bệnh sùi mào gà thường xuất hiện ở phần bao quy đầu, quy đầu, rãnh quy đầu, thân dương vật, vùng bìu, hậu môn… Ở nữ giới, vị trí thường xuất hiện sùi mào gà là môi lớn, môi bé, cổ tử cung… Ngoài bộ phận sinh dục thì triệu chứng sùi mào gà có thể xuất hiện ở miệng, ở mắt, môi, chân, tay.

Khi các khối sùi mào gà phát triển đạt kích thước lớn, khi sờ vào sẽ có cảm giác mềm, ẩm ướt, mủn ra. Chúng rất dễ bị vỡ do ma sát hay va chạm hoặc nhấn tay vào giữa vị trí khối sùi có thể thấy dịch mủ hoặc máu chảy ra.

Ở giai đoạn đầu, các mụn sùi mào gà không gây ra cảm giác đau ngứa, tuy nhiên khi chúng vỡ ra sẽ tạo thành những vết loét gây đau đớn cho người bệnh và có thể gây nhiễm trùng, dịch mủ của chúng có mùi khó chịu.

Triệu chứng bệnh mụn rộp sinh dục

Mụn rộp sinh dục là bệnh xã hội có tính lây nhiễm và tái phát cực cao. Bệnh do virus HSV gây ra, thời gian ủ bệnh của mụn rộp sinh dục chỉ khoảng 1 tuần sau khi nhiễm virus gây bệnh.

Biểu hiện bệnh xã hội mụn rộp sinh dục là những mụn nước nhỏ màu đỏ, mọc tập trung thành một khóm và gây ra cảm giác ngứa rát cho người bệnh. Có hai loại virus HSV, virus HSV – 2 thường gây ra các triệu chứng ở bộ phận sinh dục còn virus HSV – 1 thường gây ra các triệu chứng ở miệng, mắt, và các bộ phận khác trên cơ thể.

Sau một thời gian xuất hiện, các mụn nước sẽ phát triển đạt kích thước một hạy đậu, mật độ của các mụn nước cũng dày đặc hơn. Tiếp đó các mụn nước màu đỏ sẽ chuyển sang màu vàng rồi tự vỡ và tạo thành vết loét, chúng tự khô và đóng vảy sau khoảng 5 – 10 ngày.

Tuy nhiên, sau khi tự khô và đóng vảy rồi bong ra không có nghĩa là bệnh đã khỏi, virus HSV luôn tồn tại trong cơ thể, chúng sẽ tái phát sau vài tháng, gây ra đau đớn và phiền toái tới cuộc sống của người bệnh.

Biểu hiện triệu chứng chính của bệnh lậu

Bệnh lậu là do vi khuẩn Neisseria gonorrhoeae gây ra, chúng còn có tên gọi khác là song lậu cầu khuẩn do loại vi khuẩn này có dạng hình cầu và thường tạo thành từng cặp.

Triệu chứng bệnh lậu ở nam và nữ giới khác nhau, sau khoảng 2 – 7 ngày bị nhiễm vi khuẩn lậu, có khoảng 10  – 15 % nam giới không có triệu chứng cụ thể và số trường hợp nam giới còn lại đều có triệu chứng lâm sàng của bệnh. Trong khi đó hầu hết trường hợp bệnh lậu ở nữ giới không có các triệu chứng rõ ràng, bệnh thường được phát hiện khi đi khám hoặc khi bệnh đã chuyển sang giai đoạn mãn tính và gây ra biến chứng.

Các triệu chứng bệnh lậu ở nam giới là: Có cảm giác đau rát và buốt khi đi tiểu; tiểu ra mủ, thậm chí là tiểu ra máu; đầu dương vật tiết ra dịch nhờn, nhất là thời điểm sáng sớm vừa mới ngủ dậy; lỗ niệu đạo bị sưng tấy; nam giới thường có cảm giác đau đớn khi cương dương và xuất tinh; vùng bẹn bị nổi hạch, nam giới cũng có cảm giác đau vùng xương chậu, đau lưng, cơ thể bị sốt, ớn lạnh…

Ở nữ giới, bệnh lậu thường có các triệu chứng như khí hư màu vàng như mủ, ra nhiều, có mùi khó chịu; vùng kín luôn có cảm giác ngứa ngáy khó chịu; có triệu chứng tiểu buốt, tiểu rắt, tiểu ra máu; vùng kín bị sưng tấy, có mủ chảy ra khi nhấn tay vào niệu đạo, có cảm giác đau âm ỉ vùng bụng dưới khi quan hệ tình dục, đau vùng hố chậu, xương mu, hạ vị…

Triệu chứng bệnh giang mai

Bệnh giang mai là bệnh xã hội do vi khuẩn hình xoắn ốc có tên Treponema pallidum gây ra, biểu hiện bệnh xã hội này rất phức tạp và được chia thành các giai đoạn như sau:

Giai đoạn 1: Giai đoạn này xuất hiện sau khoảng 1 – 3 tháng bị nhiễm xoắn khuẩn giang mai và được gọi là săng giang mai. Đó là những vết loét hoặc những vết trợt nông, có bờ cứng, màu nâu hoặc đỏ, không chảy mủ, có bên trong các săng giang mai có chứa rất nhiều xoắn khuẩn giang mai. Những săng giang mai này không gây ngứa và không gây ra cảm giác đau đớn, chúng xuất hiện chủ yếu ở bộ phận sinh dục và sẽ biến mất sau khoảng 6 tuần xuất hiện.

Giai đoạn 2: Giai đoạn này xuất hiện sau khoảng 4 – 10 tuần giai đoạn 1 kết thúc và được gọi là giai đoạn đào ban giang mai. Khi này cơ thể người bệnh xuất hiện những vết ban đỏ hoặc hồng ẩn ở dưới da, nhìn giống vết côn trùng cắn hoặc dị ứng. Triệu chứng bệnh giai đoạn này xuất hiện ở toàn thân và cũng biến mất sau vài tuần. Ngoài ra, cơ thể cũng xuất hiện các hạch bẹn, hạch bạch huyết, cơ thể suy nhược, mệt mỏi, chán ăn, tóc rụng nhiều…

Giai đoạn tiềm ẩn: Giai đoạn này của bệnh không gây ra triệu chứng cụ thể, nó có thể kéo dài 1 – 14 năm kể từ khi các triệu chứng của bệnh giang mai bắt đầu xuất hiện.

Giai đoạn cuối: Là giai đoạn bệnh kết thúc giai đoạn tiềm ẩn, có khoảng 60% trường hợp người bệnh bị chuyển sang giai đoạn cuối, khi này bệnh được chia thành 3 loại là giang mai thần kinh, giang mai tim mạch và củ giang mai.

Củ giang mai la những u phồng trên da, chúng có thể gây viêm loét và để lại sẹo khi lành, nếu củ giang mai khu trú vào những vị trí trọng yếu trên cơ thể sẽ vô cùng nguy hiểm và có thể đe dọa tới tính mạng.

Giang mai tim mạch có biểu hiện chính là phình mạch, gây tổn thương cho các cơ quan nội tạng.

Giang mai thần kinh thường có biểu hiện là viêm màng não, bệnh nhân dễ bị mất trí nhớ theo từng giai đoạn, bị động kinh, đột quỵ…

Đội ngũ bác sĩ có hàng chục năm kinh nghiệm công tác ở các bệnh viện lớn như bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện Việt Đức…sẽ trực tiếp trao đổi, tư vấn, khám và hỗ trợ điều trị. Các bác sĩ có sự thấu hiểu đối với từng hoàn cảnh bệnh nhân giúp tư vấn phương pháp chất lượng cao với chi phí phù hợp khả năng tài chính mỗi người.